Tông thư của Đức Thánh Cha Phanxicô gửi tất cả các người Thánh hiến nhân dịp cử hành Năm của Đời sống Thánh hiến

 

Các Người Thánh Hiến Nam Nữ thân mến,

Cha viết cho Các Con trong tư cách là Người Kế Vị Thánh Phêrô, là Người mà Chúa Giêsu đã trao phó nhiệm vụ làm kiên vững anh em của mình

 trong đức tin (xem Lc22, 32), và Cha viết cho Các Con như người Anh của Các Con, được thánh hiến cho Thiên Chúa như Các Con.

Chúng ta cùng nhau tạ ơn Chúa Cha, là Đấng đã kêu gọi chúng ta đi theo Chúa Giêsu trong việc bám sát vào Tin Mừng và trong việc phục vụ Giáo Hội, và Ngài đã đổ tràn đầy trong con tim của chúng ta, Thánh Thần của Ngài, Đấng ban cho chúng ta niềm vui và làm cho chúng ta nên chứng nhân cho toàn thể thế giới về tình yêu của Ngài và về lòng thương xót của Ngài.

Khi làm cho mình trở nên tiếng vọng của việc cảm nghiệm nơi nhiều người trong các Con và của Bộ Về Đời sống Thánh hiến Và Các Hiệp Hội Đời Sống Tông Đồ, trong dịp kỷ niệm lần thứ 50 Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Ánh sáng muôn dân, mà trong chương thứ VI của Hiến Chế này, bàn về các Tu Sĩ, cũng như Sắc Lệnh Đức Ái toàn hảo về việc canh tân đời sống Tu Sĩ, Cha đã quyết định cho mở Năm về Đời sống Thánh hiến. Năm này sẽ bắt đầu vào ngày 30 tháng 11 này, Chúa Nhật thứ I Mùa Vọng, và sẽ kết thúc với Lễ Dâng Chúa Giêsu vào trong Đền Thờ, vào ngày 2 tháng 2 năm 2016.

Sau khi lắng nghe Bộ Về Đời sống Thánh hiến và Các Hiệp Hội Đời Sống Tông Đồ, Cha đã chỉ định ra như là những mục tiêu của Năm này, chính những điều mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đề nghị cho Giáo Hội vào lúc khởi đầu Thiên niên kỷ thứ III, lấy lại, một cách nào đó, những gì Ngài đã chỉ ra trong Tông Huấn Hậu Thượng Hội đồng Giám mục Thế Giới về Đời sống Thánh hiến như sau: “Các Con không chỉ có một lịch sử vinh quang để tưởng nhớ tới và để kể lại, nhưng một lịch sử lớn lao để xây dựng! Hãy nhìn về tương lai, trong đó Thánh Thần chuẩn bị các Con để còn cùng làm với các Con những điều các điều vĩ đại” (số 110).

I. Những mục tiêu cho Năm về Đời sống Thánh hiến

1. Mục tiêu thứ I là nhìn về quá khứ với tâm tình biết ơnMỗi Dòng Tu của chúng ta đến từ một lịch sử đặc sủng phong phú. Vào cội nguồn của lịch sử này, hoạt động của Thiên Chúa, Đấng mà, trong Thần Khí của Ngài, kêu gọi một số người đi theo Đức Kitô cách gần gũi hơn, để diễn tả Tin Mừng trong một hình thức đặc biệt của đời sống, để với con mắt đức tin, họ đọc các dấu chỉ của thời đại, để đáp trả, với sự sáng tạo, cho các nhu cầu của Giáo Hội. Kinh nghiệm của thuở ban đầu từ từ được lớn thêm lên và được khai triển ra, bao gồm những thành viên trong những môi trường mới về địa dư và văn hóa, làm cho có sức sống những cách thế mới để thực hiện đặc sủng, với các sáng kiến mới và các cách diễn tả về đức ái tông đồ. Đó như là hạt giống trở nên một cây làm lan tỏa ra các ngành cây xum xuê.

Trong Năm này, đây sẽ là dịp thuận lợi mà mỗi Gia đình đặc sủng hãy nhớ lại cội nguồn của mình và sự phát triển lịch sử của mình, để tạ ơn Thiên Chúa là Đấng đã cống hiến cho Giáo Hội biết bao nhiêu hồng ân, và như thế những hồng ân này làm đẹp Giáo Hội và làm cho Giáo Hội được trang bị với từng việc lành thánh thiện (xem Hiến chế tín lý về Giáo Hội, Ánh sáng muôn dân, 12).

Kể lại lịch sử riêng của mình là điều cần thiết để giữ cho căn tính sống động, và như thế để làm vững mạnh sự hiệp nhất của Gia đình và đem lại ý nghĩa của việc các thành viên thuộc về Gia đình này. Đây không phải là việc bàn thảo như khoa khảo cổ học làm, hoặc trồng tỉa các nỗi nhớ nhung vô ích, mà đúng hơn, là lược lại hành trình của các thế hệ trong quá khứ để đón nhận, trong đó, ánh lửa gợi hứng, các lý tưởng, các dự án, các giá trị, đã thúc đẩy các Gia đình, khởi đầu từ các Vị Sáng lập, các Người Phụ Nữ Sáng lập và các cộng đoàn đầu tiên. Đó cũng là một cách để ý thức về việc làm thế nào, thông suốt qua lịch sử, cho đặc sủng được sống, các sáng kiến nào đã thoát ra khỏi cảnh tù túng, đã phải đương đầu với các khó khăn nào và làm sao đã có thể vượt qua các khó khăn đó. Người ta có thể khám phá ra các điều không tương hợp, kết quả của các yếu đuối của con người, và nhiều lần, có thể, ngay cả sự quên đi một vài khía cạnh chính của đặc sủng. Tất cả là điều mang tính cách giáo huấn và cùng trở nên một lời kêu gọi việc trở lại. Kể lịch sử riêng của mình là dâng lời ca tụng Thiên Chúa và tạ ơn Ngài vì tất cả các ơn Ngài ban cho.

Chúng ta cám ơn Chúa một cách đặc biệt vì 50 năm vừa qua tiếp theo sau Công Đồng Chung Vatican II, được coi như là một “làn gió thổi” của Chúa Thánh Thần cho toàn thể Giáo Hội. Nhờ Ngài mà Đời sống Thánh hiến đã thực hiện một hành trình thật phong phú trong việc canh tân mà, với các ánh sáng của hành trình này và các bóng tối của hành trình này, đã là một thời điểm của ơn thánh, được đánh dấu bởi sự hiện diện của Thánh Thần.

Chớ gì Năm của Đời sống Thánh hiến cũng là một dịp để xưng thú, với tâm tình khiêm nhường, và cùng nhau với lòng tín thác nơi Thiên Chúa Tình Yêu (xem 1 Ga 4,8), sự yếu đuối riêng của mình và để sống đời sống này như là một cảm nghiệm về tình yêu nhân từ thương xót của Chúa; là một dịp để kêu lên cho thế giới với sức mạnh, và với niềm hân hoan, làm chứng tá về sự thánh thiện và sức sống hiện diện trong phần lớn những người được kêu gọi để theo Đức Kitô trong Đời sống Thánh hiến.

2. Ngoài ra Năm này còn mời gọi chúng ta sống hiện tại với lòng đam mê. Ký ức biết ơn về quá khứ thúc đẩy chúng ta, trong việc chăm chú lắng nghe những gì mà ngày nay Chúa Thánh Thần còn nói với Giáo Hội, để thực hiện, với một cách thế luôn sâu xa hơn, các khía cạnh làm nên Đời sống Thánh hiến.

Ngay từ đầu của thời đan tu, cho tới ngày nay “các cộng đoàn mới:, mọi hình thức của Đời sống Thánh hiến, được phát sinh ra từ lời mời gọi của Chúa Thánh Thần, để đi theo Đức Kitô như được dạy do Phúc Âm” (xem Đức ái toàn hảo, 2). Với các Vị Sáng lập Nam Nữ, luật tuyệt đối là chính Phúc Âm, mọi luật khác chỉ muốn là cách diễn tả của Phúc Âm và là dụng cụ để sống Phúc Âm một cách trọn vẹn. Lý tưởng của họ là Đức Kitô, là bám vào Ngài một cách toàn vẹn, cho tới khi có thể nói được như Phaolô: “Sống với tôi là Đức Kitô” (Pl 1,21); các lời khấn chỉ có ý nghĩa là để thực hiện tình yêu đam mê của họ.

Câu hỏi mà chúng ta được mời gọi để đem chúng ta vào trong Năm này là có không và có như thế nào, ngay cả chúng tôi, cũng để cho mình bị cật vấn bởi Phúc Âm; xem Phúc Âm có thực sự là “cuốn sách gối đầu giường” cho đời sống hằng ngày và cho các chọn lựa mà chúng ta được mời gọi để thực hiện. Phúc Âm mang tính cách đòi hỏi và đòi hỏi được sống cách tận căn và chân thành. Thực không đủ, nếu chỉ có việc đọc Phúc Âm (cho dù việc đọc và học hỏi Phúc Âm vẫn thực sự cực kỳ quan trọng), cũng không đủ, chỉ suy niệm Phúc Âm (và chúng ta làm điều này với niềm vui mỗi ngày). Chúa Giêsu đòi chúng ta phải thực hiện Phúc Âm, phải sống các lời của Ngài.

Với Chúa Giêsu, chúng ta còn phải tự hỏi chính mình, có thực sự là tình yêu thứ nhất và cuối cùng, như chúng ta đã khấn, ta khi chúng ta đọc các lời khấn không? Chỉ khi nào là như thế, chúng ta mới có thể và phải yêu trong chân lý và lòng thương xót mọi người mà chúng ta gặp trên hành trình của chúng ta, để chúng ta hiểu từ Ngài rằng tình yêu là gì và phải yêu như thế nào; chúng ta sẽ biết yêu thương bởi vì chúng ta sẽ có chính con tim của Ngài.

Các Vị Sáng Lập Nam Nữ của chúng ta đã cảm nghiệm được nơi mình lòng cảm thương mà Chúa Giêsu có, khi Ngài nhìn thấy đoàn lũ dân chúng như bày chiên không có người chăn. Như Chúa Giêsu, bị đánh động bởi lòng cảm thương này, đã ban cho lời của Ngài, đã chữa lành các bệnh nhân, đã ban bánh để họ ăn, đã cho chính sự sống của Ngài, như thế cả các Đấng Sáng Lập Nam Nữ đã đặt chính mình để phục vụ nhân loại mà Thánh Thần đã sai họ đến với nhân loại này, trong những cách thế rất khác nhau: như cầu bầu, rao giảng Phúc Âm, dạy giáo lý, giáo dục, phục vụ người nghèo, các bệnh nhân… Sự tưởng tượng của đức bác ái đã không biết tới các giới hạn và đã biết mở ra nhiều con đường vô số kể, để mang hơi thở của Phúc Âm vào trong các nền văn hóa và trong các môi trường xã hội rất khác nhau.

Năm Đời sống Thánh hiến hỏi chúng ta về lòng trung thành với sứ mệnh đã được trao phó cho chúng ta. Các tác vụ, các hoạt động của chúng ta, sự hiện diện của chúng ta, có đáp lại những gì mà Thánh Thần đã đòi hỏi các Vị Sáng Lập của chúng ta, có xứng hợp với việc đi theo các mục đích của sứ mệnh trong xã hội và trong Giáo Hội ngày nay không? Có điều gì đó chúng ta phải thay đổi không? Chúng ta có cùng một sự đam mê với dân của chúng ta không, chúng ta có ở gần gũi họ không, cho đến mức độ cùng chia sẻ các niềm vui và các đau khổ của họ, và như thế để hiểu được thực sự các nhu cầu và có thể cung ứng sự đóng góp của chúng ta để đáp lại không? ” Chính lòng quảng đại và sự từ bỏ đã thúc đẩy các Vị Sáng Lập –Đức Gioan Phaolô II đã hỏi – phải đánh động các Con, con cái tinh thần của các Con, để giữ cho sống động các đặc sủng mà, với chính sức mạnh của Thánh Thần đã thúc giục các ngài, tiếp tục làm cho nên giầu có phong phú và được thích nghi, mà không đánh mất đi đặc tính nguyên tuyền, để đặt mình phục vụ Giáo Hội và mang tới sự toàn vẹn công việc thiết lập Nước của Ngài” [1].

Trong khi việc nhớ lại các nguồn gốc, thì trong óc, một điểm nền tảng nữa về dự án Đời sống Thánh hiến đã đến. Các Vị Sáng Lập Nam Nữ đã bị làm cho có sức mê hoặc từ sự hiệp nhất của Nhóm 12 bên cạnh Chúa Giêsu, từ sự hiệp thông mà cộng đoàn thứ nhất tại Giêrusalem đã nhận ra. Làm cho sống động cộng đoàn riêng của mình, khi mỗi người trong họ đã biết làm lại các mẫu Phúc Âm, có một con tim và chỉ một linh hồn, vui hưởng sự hiện diện của Chúa (xem Đức ái toàn hảo,15).

Sống hiện tại với đam mê có nghĩa là trở nên “các chuyên viên của tình hiệp thông“, “các chứng nhân và người làm nên “dự án hiệp thông” đang ở đỉnh cao của lịch sử của con người theo ý của Thiên Chúa” [2]. Trong một xã hội của các cuộc chống đối nhau, khi sự chung sống thật khó khăn giữa các nền văn hóa khác nhau, của các cách thế áp đặt lên các người yếu thế hơn, của các bất đồng đều, chúng ta được kêu gọi cống hiến một mẫu gương cụ thể về cộng đoàn mà, qua việc nhận ra địa vị của mỗi người và việc chia sẻ ơn huệ mà mỗi người đang mang trong mình, cho phép sống các mối tương quan huynh đệ.

Vậy Anh chị em hãy là những người nam và người nữ của tình hiệp thông, làm cho Anh Chị Em hiện diện, với sự can đảm, ở đâu có các khác biệt và căng thẳng, và Anh Chị Em hãy là dấu chỉ đáng tin của sự hiện diện của Chúa Thánh Thần Đấng đổ vào trong các con tim, sự đam mê để tất cả nên một mà thôi (xem Ga 17, 21). Anh Chị Em hãy sống đời nhiệm hiệp của việc gặp gỡ: “khả năng cảm thấy, lắng nghe các người khác. Khả năng cùng nhau đi tìm con đường, đi tìm phương pháp” [3], trong khi để lóe sáng lên từ mối liên hệ tình yêu xuyên qua giữa 3 Ngôi Thiên Chúa (xem1Ga 4,8), là như mẫu gương của mọi mối tương quan giữa các con người.

3. Ôm ấp tương lai với niềm hy vọng là mục tiêu thứ ba của Năm này. Chúng ta biết các khó khăn, mà Đời sống Thánh hiến gặp phải trong các hình thức khác nhau: việc giảm bớt ơn gọi và việc trở nên già nua, nhất là trong thế giới Tây phương, rồi các vấn đề kinh tế, đi theo cuộc khủng hoảng về tài chánh trên thế giới, các thách đố mang tính cách quốc tế và toàn cầu hóa, các mưu cơ của chủ thuyết tương đối hóa, việc loại ra ngoài rìa và việc bị coi là không có giá gì trong xã hội… Chính trong các thực tại không chắc chắn này, những điều mà chúng ta chia sẻ với bao nhiêu anh chị em cùng thời với chúng ta, thì niềm hy vọng của chúng ta đang thực hiện, như là kết quả của đức tin vào Chúa của lịch sử trên con đang tiếp tục tái diễn cho chúng ta: “Đừng sợ… bởi vì Ta ở cùng con” (Gr 1,8).

Niềm hy vọng mà chúng ta nói tới không đặt nền tảng trên các con số hoặc trên các công việc, nhưng dựa trên Đấng chúng ta đặt sự tín thác của chúng ta (xem 2Tm 1,12), vì đối với Ngài “không gì là không thể làm được” (Lc 1,37). Đó là niềm hy vọng của chúng ta, là điều không làm chúng ta thất vọng và sẽ cho phép Đời sống Thánh hiến tiếp tục viết ra một lịch sử vĩ đại trong tương lai, mà chúng ta phải hướng con mắt của chúng ta tới Ngài, ý thức rằng hướng về Ngài Đấng thúc đẩy chúng ta, Chúa Thánh Thần để tiếp tục cùng với chúng ta làm nên những điều cao cả.

Các Con đừng để cho mình bị cám dỗ về các con số và về tính cách hiệu nghiệm, còn kém hơn nữa, là chúng ta chỉ tín thác vào việc tin tưởng nơi sức lực riêng của mình. Các Con hãy đi tìm các chân trời của đời sống và của giây phút hiện thực trong một sự canh chừng cẩn mật. Với Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, Cha lặp lại cho các Con: “Đừng hiệp nhất với các tiên tri giả chỉ loan báo sự kết thúc hoặc điều vô nghĩa của Đời sống Thánh hiến trong Giáo Hội của thời đại chúng ta; đúng hơn, Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và mặc lấy khí giới của ánh sáng – như Thánh Phaolô khuyên (xem Rm 13,11-14) – ở lại trong thái độ tỉnh thức và canh chừng” [4]. Chúng ta hãy luôn tiếp tục hành trình của chúng ta với niềm tín thác nơi Chúa.

Cha ngỏ lời nhất là với các Con, những người trẻ. Các Con là hiện tại bởi vì các Con đã sống tích cực trong lòng của các Hội Dòng của các Con, khi cống hiến một sự đóng góp quyết định với sự tươi mát và quảng đại của sự chọn lựa của các Con. Đồng thời, các Con cũng là tương lai bởi vì sắp tới đây, các Con sẽ được mời gọi cầm chắc trong tay việc hướng dẫn linh hoạt, việc huấn luyện, việc phục vụ, công tác truyền giáo. Năm này sẽ nhìn thấy các Con là các người đi đầu trong việc đối thoại với thế hệ ở trước mặt các con. Trong tình hiệp thông huynh đệ, các Con sẽ có thể làm cho mình nên phong phú về kinh nghiệm và sự khôn ngoan, và đồng thời, các Con sẽ có thể tái đề nghị cho thế hệ này, lý tưởng mà họ biết ngay từ đầu, đóng góp vào việc làm tung mở ra và sự tươi mát với sự hăng say của các con, như thế để cùng nhau đưa ra các hình thức mới để sống Phúc Âm và các câu trả lời luôn thích hợp cho các đề nghị của chứng từ và việc loan báo.

Cha hài lòng vì biết rằng các Con sẽ có các dịp để gặp nhau giữa các Con, các Tu sĩ trẻ của các Hội Dòng khác nhau. Chớ gì cuộc gặp gỡ này trở nên hành trình thường xuyên để hiệp thông, để nâng đỡ lẫn nhau, để hiệp nhất.

II. Các mong chờ của Năm Đời sống Thánh hiến

Đâu là điều Cha mong chờ cách đặc biệt từ Năm của Ơn Sủng này từ Đời sống Thánh hiến?

1. Chớ gì là điều luôn đúng, điều mà Cha đã nói một lần: “Ở đâu có các Tu Sĩ, thì có niềm vui“. Chúng ta được kêu gọi để cảm nghiệm và tỏ ra rằng Thiên Chúa có thể làm tràn đầy con tim của chúng ta và làm cho chúng ta hạnh phúc, mà không cần tới việc đi tìm nơi khác, hạnh phúc của chúng ta, là tình huynh đệ đích thực được sống trong các cộng đoàn của chúng ta, nuôi dưỡng niềm vui của chúng ta; chớ gì việc hiến thân cách trọn vẹn của chúng ta trong việc phục vụ Giáo Hội, phục vụ các Gia đình, các người trẻ, các người già, các người nghèo khó, làm cho chúng ta nên như những con người và ban đời sống của chúng ta được nên toàn vẹn.

Chớ gì giữa chúng ta, không có việc nhìn nhau với những bộ mặt buồn sầu, những con người không hài lòng, và không được thỏa mãn, bởi vì “một việc bước đi theo mà buồn bã, thì là một việc bước đi theo chẳng ra gì“. Cả chúng ta nữa, như tất cả mọi người nam nữ khác, chúng ta cũng có các khó khăn, những đêm tối của tinh thần, những thất vọng, những bệnh tật, việc mất đi sức lực phải có do tuổi già. Chính trong điều này mà chúng ta phải tìm ra “niềm vui trọn vẹn“, phải học để biết được dung nhan của Đức Kitô là Đấng đã nên giống chúng ta trong tất cả và vì thế chúng ta cảm nghiệm được niềm vui là biết mình giống Người, Đấng mà, vì yêu thương chúng ta, đã không từ chối chấp nhận thập giá.

Trong một xã hội như đang hướng về việc tôn thờ điều gì là hữu hiệu, tôn thờ sức khỏe, thành công và bỏ ra ngoài rìa những người nghèo khổ và loại trừ các “người bị mất mát, chúng ta có thể làm chứng tá, qua đời sống của chúng ta, chân lý của các lời Kinh Thánh: “Khi tôi yếu đuối, thì lúc đó tôi lại mạnh” (2Cr 12,10).

Chúng ta có thể áp dụng vào Đời sống Thánh hiến, điều được viết trong Tông huấnNiềm Vui Của Tin Mừng, khi trích dẫn bài giảng của Đức Bênêđictô XVI như sau: “Hội Thánh phát triển không phải bằng việc chiêu dụ, nhưng bằng sức thu hút” (số 14, cuối). Phải, Đời sống Thánh hiến không lớn lên nếu chúng ta tổ chức những chiến dịch chiêu mộ ơn gọi, thật đẹp, nhưng nếu các người trẻ nữ và các bạn nam gặp chúng ta, họ cảm thấy bị lôi cuốn bởi chúng ta, nếu họ nhìn nơi chúng ta là những người nam và người nữ thật hạnh phúc! Cũng thế, tính các hữu hiệu tông đồ không tùy thuộc vào sự hữu hiệu và quyền năng của các phương tiện của nó. Chính đời sống của các Con phải nói lên, một đời sống mà từ đó tỏa ra rạng ngời niềm vui và vẻ đẹp để sống Phúc Âm và đi theo Đức Kitô.

Cha cũng lặp lại cho các Con điều mà Cha đã nói trong Lễ Vọng Chúa Thánh Thần vừa qua cho các Phong Trào của Giáo Hội: “Giá trị của Giáo Hội, một cách tự nền tảng, là sống Phúc Âm và làm chứng tá cho đức tin của chúng ta. Giáo Hội là muối đất, là ánh sáng thế gian, Giáo Hội được gọi để làm cho hiện diện trong xã hội men bột của Nước Thiên Chúa và trước hết, Giáo Hội thực hiện điều đó với chứng tá của mình, chứng tá của tình yêu huynh đệ, của sự liên đới và của việc chia sẻ với nhau” (ngày 18 tháng 5 năm 2013).

2. Điều Cha chờ mong là “Các Con hãy đánh thức thế giới“, bởi vì điểm làm nên đặc tính Đời sống Thánh hiến là ngôn sứ. Như Cha đã nói với các Bề Trên Tổng Quyền “tính cách tận căn của Phúc Âm không chỉ là các Tu Sĩ: điều này đòi hỏi tất cả mọi người. Nhưng các Tu Sĩ theo Chúa một cách đặc biệt, một cách ngôn sứ“. Đó là ưu tiên mà bây giờ được đòi hỏi là: “trở nên ngôn sứ làm chứng như Chúa Giêsu đã sống trên trái đất này…Nhưng các Tu Sĩ phải để cho mình lo việc làm ngôn sứ” (ngày 29 tháng 11 năm 2013).

Một ngôn sứ nhận được từ Thiên Chúa khả năng soi bói lịch sử trong đó họ sống và giải thích các biến cố: như là các người tuần canh coi chừng trong đêm tối và biết khi nào hừng đông xuất hiện (xem Is 21, 11-12). Biết Thiên Chúa và biết con người nam và người nữ, là những người anh và những người chị của mình. Họ có khả năng phân định và cũng có khả năng tố cáo sự dữ của tội và các bất công, bởi vì sống tự do, họ không phải trả lời cho các người chủ nhân khác ngoài Thiên Chúa, họ không có tư lợi nào ngoài điều thuộc về Thiên Chúa. Ngôn sứ thường đứng về phía các người nghèo và các người không được bênh vực, bởi vì họ biết rằng chính Thiên Chúa đứng về phía họ.

Vậy Cha chờ mong các Con đừng giữ sống động “các ảo tưởng, nhưng các Con biết tạo ra “các nơi khác“, ở đó người ta sống lý luận của Phúc Âm của ơn tận hiến, của tình huynh đệ, của việc đón nhận các khác biệt, của tình yêu hỗ tương. Các đan viện, các cộng đoàn, các trung tâm tu đức, các thành trì, các trường học, các nhà thương, các nhà – như Gia đình và tất cả những nơi mà đức bác ái và tính sáng tạo theo đặc sủng làm cho nảy sinh ra, và còn làm cho nảy sinh ra tính sáng tạo hơn nữa, phải luôn trở nên hơn nữa men bột cho một xã hội được gợi hứng từ Phúc Âm, “thành trì trên núi“, nơi nói sự thật và quyền năng của các lời của Chúa Giêsu.

Nhiều lần, như đã xẩy ra cho ông Elia và ông Giona, có thể tới cơn cám dỗ chạy trốn, để cho mình thoát ra khỏi trách vụ ngôn sứ, bởi vì trách vụ này quá đòi hỏi, bởi vì làm chúng ta mỏi mệt, thất vọng từ các kết quả. Nhưng vị ngôn sứ biết mình không ở một mình. Cả chúng ta, như với ông Giêrêmisa, Thiên Chúa bảo đảm chúng ta: “Đừng sợ, bởi vì Ta ở cùng con để giữ gìn con” (Gr 1,8).

3. Các Nam Nữ Tu Sỉ, cũng như tất cả các người thánh hiến khác, được kêu gọi để là “các chuyên viên của sự hiệp thông“. Vì thế Cha chờ mong rằng “linh đạo hiệp thông“, được chỉ ra do Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trở nên hiện thực và các Con ở hàng đầu phải đón nhận “thách đố lớn lao đang ở trước chúng ta” trong thiên niên kỷ mới này: “hãy làm cho Giáo Hội nên ngôi nhà và trường học dạy sự hiệp thông” [5]. Cha chắc rằng trong Năm này các Con sẽ làm việc cách nghiêm chỉnh để lý tưởng huynh đệ được theo đuổi bởi các Vị Sáng Lập Nam Nữ, tăng thêm hơn nữa ở nhiều cấp bậc khác nhau, như các vòng được quy tụ về trung tâm.

Tình hiệp thông được thể hiện trước tiên ở trong mỗi cộng đoàn của Hội Dòng. Về điều này, Cha mời gọi các Con hãy đọc lại các bài phát biểu của Cha, trong đó Cha không mệt mỏi lặp lại rằng, các chỉ trích, các lời tâng bốc, các ghen tương, tị hiềm, các cách chống ngược lại nhau, là các thái độ không có quyền ở lại trong nhà của các Con. Nhưng, đem ra tiền đề này, hành trình đức bác ái mở ra trước chúng ta hầu như vô tận, bởi vì đó là việc đi tiếp theo, với sự đón nhận và sự chú ý lẫn nhau, thực hành tình hiệp thông về các của cải vật chất và thiêng liêng, việc sửa lỗi cho nhau, việc kính trọng những người bé nhỏ nhất… Đó là “huyền nhiệm” của việc sống với nhau”, đó là điều làm cho cuộc sống của chúng ta “thành một cuộc hành hương thánh thiện” [6]. Chúng ta phải tự hỏi mình xem cả về mối tương quan của chúng ta giữa các con người với các nền văn hóa khác nhau, khi nhìn thấy rằng các cộng đoàn của chúng ta đang luôn trở thành cộng đoàn quốc tế hơn. Chúng ta đồng ý thế nào khi để cho người khác biểu lộ chính mình họ ra, họ được đón nhận với các ơn huệ riêng của họ, trở nên hoàn toàn đồng trách nhiệm, không?

Ngoài ra Cha còn chờ mong tình hiệp thông tăng lên giữa các phần tử giữa các Hội Dòng khác nhau. Năm nay lại không thể là dịp để đi ra với một sự can đảm hơn khỏi các biên giới của Dòng của mình để cùng làm việc với nhau, ở cấp bậc địa phương và toàn cầu, đưa ra các dự án chung về việc huấn luyện, về việc rao giảng Tin Mừng, về việc tham gia vào các công tác xã hội, được không? Theo cách thế này, người ta có thể có được, một cách hữu hiệu hơn, một chứng tá ngôn sứ. Tình hiệp thông và cuộc gặp gỡ giữa các khác biệt về đặc sủng là hành trình hy vọng. Không ai xây dựng tương lai khi tách riêng mình ra, cũng không thể chỉ với sức lực riêng của mình, nhưng biết mình đang ở trong sự thật về một tình hiệp thông luôn mở ra cho việc gặp gỡ, cho đối thoại, cho lắng nghe nhau, người này nghe người khác và giữ cho mình khỏi căn bệnh tự quy hướng về mình.

Đồng thời, Đời sống Thánh hiến được kêu gọi để bước theo việc chung sức chân thành giữa tất cả các ơn gọi trong Giáo Hội, khởi sự từ các linh mục và các giáo dân, như thế để “làm tăng lên linh đạo của tình hiệp thông trước hết ở ngay chính trong mỗi nơi và rồi trong chính cộng đoàn Giáo Hội và rồi đi qua các biên giới ràng buộc chúng ta” [7].

4. Cha còn chờ mong từ các Con điều mà Cha đòi hỏi tất cả các thành phần của Giáo Hội: là hãy đi ra khỏi chính mình để đi tới các vùng ngoại ô của cuộc sống. “Các con hãy đi khắp thế gian” là lời sau cùng mà Chúa Giêsu ngỏ với các môn đệ của Ngài và còn tiếp tục gửi tới tất cả chúng ta hôm nay (xem Mc 16, 15). Có tất cả một nhân loại đang chờ đợi: những con người đã mất đi mọi hy vọng, các Gia đình đang gặp khó khăn, các đứa trẻ bị bỏ rơi, các thiếu niên đã bị loại ra trước, khỏi mọi tương lai, những bệnh nhân và những người già, trong khi đó các người giàu có thỏa thuê với của cải, nhưng lại trống rỗng nơi con tim, các người đàn ông và đàn bà đang đi tìm ý nghĩa cuộc đời, đang khao khát Thiên Chúa…

Các Con đừng khép mình trong chính các Con, các Con đừng để cho mình bị ngạt thở vì các vật nhỏ bé trong căn nhà, các Con đừng để mình là tù nhân của các vấn đề của các Con. Những điều này tự giải quyết nếu chúng Con đi ra ngoài để giúp người khác giải quyết các vấn đề của họ và để loan báo tn mừng. Các Con sẽ tìm được sự sống khi trao ban sự sống, tìm được niềm hy vọng, khi cho đi niềm hy vọng, tình yêu khi yêu thương.

Cha chờ nơi các Con những cử chỉ cụ thể tiếp đón các người tị nạn, cử chỉ của sự gần gũi những người nghèo khó, tinh thần sáng tạo trong việc dạy giáo lý, trong việc loan báo Phúc Âm, trong việc đưa người ta vào đời sống cầu nguyện. Từ đó Cha cầu chúc việc làm cho nhanh chóng các cấu trúc, việc xử dụng lại các ngôi nhà lớn vào các công tác thích hợp hơn với các đòi hỏi hiện nay của việc loan báo Tin Mừng và bác ái, việc đưa ra các cách thế xứng hợp với các nhu cầu mới.

5. Cha chờ mong rằng mỗi hình thức của Đời sống Thánh hiến tự hỏi mình về điều mà Thiên Chúa và nhân loại ngày nay đòi đang hỏi.

Các đan viện và các nhóm có chiều hướng chiêm niệm có thể gặp nhau giữa họ, hoặc nối kết trong những cách thế khác biệt hơn để trao đổi các kinh nghiệm về đời sống cầu nguyện, việc làm thế nào để tăng lên trong tình hiệp thông với tất cả Giáo Hội, về việc làm sao nâng đỡ các Kitô Hữu bị bách hại, làm thế nào đón nhận và theo dõi những ai đang đi tìm một đời sống thiêng liêng sâu đậm hơn hoặc những người cần tới sự trợ giúp về luân lý hoặc vật chất.

Cũng thế với Các Dòng tu lo việc bác ái, lo cổ võ văn hóa, những Dòng lăn xả trong việc loan báo Tin Mừng hoặc thi hành các tác vụ đặc biệt về mục vụ, các Tu Hội đờitrong sự hiện diện chính của họ giữa các cơ chế xã hội. Sự tưởng tượng của Thần Khí đã làm sinh ra các cách sống thật khác nhau đến nỗi chúng ta không thể dễ dàng liệt kê các cách sống này, hoặc đem vào trong các chế độ đã xây dựng trước. Vì vậy đối với Cha, không thể nói với từng Hình thức đặc sủng. Tuy nhiên không ai trong Năm nay để mình mình ra ngoài khỏi việc xem xét lại sự hiện diện của mình trong đời sống Giáo Hội và trong cách thế đáp lại các đòi hỏi luôn có và luôn mới mẻ, được gợi ra cho chúng ta, với tiếng hò của nhưng người nghèo khổ đang vang lên.

Chỉ trong sự chú ý này vào các nhu cầu của thế giới và trong thái độ dễ bảo với các thúc đẩy của Thánh Thần, mà Năm của Đời sống Thánh hiến biến thành một thời điểm (kairos) đích thực, một thời gian của Thiên Chúa giầu ân sủng và công cuộc biến đổi.

III. Các viễn tượng của Năm Đời sống Thánh hiến

1. Với lá thư này, ngoài những người Thánh hiến, Cha cũng ngỏ lời với các giáo dân,là những người, cùng với các người thánh hiến, chia sẻ lý tưởng, tinh thần sứ mạng. Một số Hội Dòng có truyền thống xưa về điểm này, ngoài ra còn có kinh nghiệm mới đây. Thực thế chung quanh Gia đình Tu sĩ, cũng như các Hiệp Hội Tông Đồ và chính các Tu Hội Đời, còn có một Gia đình lớn hơn, “Gia đình đặc sủng“, gồm có ngoài các Hội Dòng được nhận ra trong cùng một đặc sủng, và nhất là các Kitô Hữu giáo dân, cảm thấy được gọi, chính trong đời sống giáo dân của mình, tham dự vào chính thực tại đặc sủng.

Cha cũng khích lệ các Con, các Giáo Dân, sống Năm Đời sống Thánh hiến này như là một ơn có thể làm cho các Con ý thức hơn về ơn các Con đã lãnh nhận. Các Con hãy cử hành Năm này với tất cả “Gia đình“, để làm tăng thêm và để cùng nhau đáp trả các ơn gọi của Thánh Thần trong xã hội ngày nay. Trong một số dịp, khi các Người Thánh Hiến của những Hội Dòng khác nhau trong Năm này gặp gỡ nhau giữa họ, các Con hãy làm với cách thế để cũng hiện diện như là diễn tả ơn duy nhất của Thiên Chúa, như thế để biết các kinh nghiệm của các Gia đình đặc sủng khác, của các nhóm giáo dân khác và để làm giàu và nâng đỡ lẫn nhau, người này nâng đỡ người khác.

2. Năm của Đời sống Thánh hiến không chỉ nhắm vào các người thánh hiến mà thôi, nhưng nhắm tới toàn thể Giáo Hội. Như thế Cha ngỏ lời với tất cả dân Kitô để họ luôn ý thức hơn về ơn như là sự hiện diện của biết bao nhiêu người thánh hiến Nam Nữ, kẻ thừa kế các Vị Thánh vĩ đại là những Vị đã làm ra lịch sử của Kitô Giáo. Giáo Hội sẽ là gì nếu không có Thánh Beneđictô và Thánh Basilio, nếu không có Thánh Augustino và Thánh Bênađô, nếu không có Thánh Phanxicô và Thánh Đa Minh, nếu không có Inhaxiô Loyola và Thánh Têrêsa Avila, nếu không có Thánh Angela Merici và Thánh Phaolô de Paoli. Bản liệt kê sẽ như là vô tận, cho tới Thánh Gioan Bosco, Thánh Têrêsa Calcutta? Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI xác quyết rằng: “Không có dấu chỉ cụ thể này, đức ái linh hoạt hóa toàn thể Giáo Hội sẽ rơi vào nguy cơ là sẽ lạnh nhạt đi, mối mâu thuẫn cứu chuộc của Phúc Âm sẽ cùn-nhụt đi, “muối” của đức tin sẽ loãng tan ra trong một thế giới đang ở giai đoạn bị tục hóa” (Evangelica testificatio, 3).

Vậy Cha mời tất cả các cộng đoàn Kitô hãy sống Năm này trước hết để tạ ơn Chúa và nhớ lại với lòng biết ơn các ân sủng đã nhận được và rồi chúng ta đã nhận được các ân sủng này nhờ sự thánh thiện của Các Vị Sáng Lập Nam và Nữ và về sự trung thành của biết bao nhiêu người thánh hiến cho đặc sủng riêng biệt. Cha mời tất cả hãy nắm tay nhau chung quanh các Người thánh hiến, để vui mừng với họ, để chia sẻ các khó khăn của họ, và để cộng tác với họ trong cách thế có thể được, vì họ thực hiện tác vụ của họ và công việc của họ, rồi những điều đó là của toàn thể Giáo Hội. Các Con hãy làm cho cảm nghiệm được tâm tình và sức nóng của tất cả dân Kitô.

Cha chúc tụng Chúa vì sự trùng hợp hạnh phúc này của Năm về Đời sống Thánh hiến với Thượng Hội đồng Giám mục về Gia đình. Gia đình và Đời sống Thánh hiến là các ơn gọi mang theo sụ phong phú và ơn thánh cho tất cả, là những khoảng không gian của việc nhân bản hóa trong việc xây dựng các mối tương quan sống động, các nơi của việc loan báo Tin Mừng. Người ta có thể giúp nhau, người này giúp người khác.

3. Với lá thư này Cha cũng dám ngỏ lời với các người thánh hiến và các thành viên của các huynh đoàn và các cộng đoàn thuộc về các Giáo Hội của truyền thống khác với truyền thống công giáo. Cuộc sống đan sĩ là một di sản của Giáo Hội không bị phân chia, từ lúc đó đã linh động hết sức hoặc trong các Giáo Hội Chính Thống cũng như trong Giáo Hội Công Giáo. Với họ, cũng như với các kinh nghiệm kế tiếp của thời gian trong đó Giáo Hội bên Tây Phương còn đang hiệp nhất, thì các sáng kiến tương tự cũng được gợi hứng nảy sinh trong phạm vi của các Cộng Đoàn Giáo Hội của Thời Canh Tân, là những sáng kiến sau đó đã tiếp tục nảy sinh ra trong giữa lòng của họ các biểu lộ về sau của các cộng đoàn huynh đệ và phục vụ.

Bộ Các Hiệp Hội Về Đời Thánh Hiến và Các Hiệp Hội Về Đời Tông Đồ đã có chương trình về các sáng kiến để làm cho các thành viên thuộc về các kinh nghiệm của Đời sống Thánh hiến và huynh đệ của các Giáo Hội khác nhau. Cha cổ võ cách nồng nhiệt những cuộc gặp gỡ này để làm tăng lên sự biết nhau, sự trân trọng nhau, sự hợp tác lẫn nhau, theo cách thế mà việc đại kết của Đời sống Thánh hiến trở nên sự trợ giúp cho hành trình lớn hơn hướng về sự hiệp nhất giữa tất cả các Giáo Hội.

4. Rồi chúng ta không thể quên đi rằng hiện tượng của Đan viện và các hình thức biểu lộ khác của huynh đoàn tu sĩ hiện diện trong mọi tôn giáo. Không thiếu các kinh nghiệm, cũng được làm cho vững vàng, về việc đối thoại giữa lên đan viện giữa Giáo Hội Công Giáo và một số các truyền thống tôn giáo lớn. Cha cầu mong rằng Năm về Đời sống Thánh hiến là dịp để thẩm định hành trình đã đi qua, để làm cho nhạy cảm các người thánh hiến trong phạm vi này, để tự hỏi chính chúng ta xem đâu là các bước sẽ tới phải thực hiện hướng về một sự nhận biết lẫn nhau luôn luôn thêm sâu xa và một sự hợp tác trong biết bao nhiêu phạm vi của việc phục vụ cho đời sống của con người.

Cùng nhau bước đi là điều luôn làm cho phong phú và có thể mở ra các nẻo đường mới cho các mối liên hệ giữa các dân tộc và các nền văn hóa mà trong giai đoạn này xem ra đang bị đụng tới các khó khăn.

5. Sau cùng Cha ngỏ lời các đặc biệt với các Người Anh Em của Cha trong hàng Giám Mục. Chớ gì Năm này là một dịp cho việc tiếp đón một cách chân tình và vui tươi Đời sống Thánh hiến như là một vốn thiêng liêng đóng góp vào lợi ích chung của toàn thể Thân Thể Đức Kitô (xem Hiến Chế tín lý Ánh sáng muôn dân, 43) và không chỉ các Gia đình tu sĩ. “Đời sống Thánh hiến là ơn ban cho Giáo Hội, sinh ra trong Giáo Hội, lớn lên trong Giáo Hội, tất cả hướng về Giáo Hội” [8]. Vì thế, như là ơn ban cho Giáo Hội, đó không phải là một thực thể biệt lập hoặc ở ngoài rìa, nhưng một cách thân thiết thuộc về Giáo Hội, ở ngay giữa chính con tim của Giáo Hội như là yếu tố quyết định của sứ mệnh của Giáo Hội, như là diễn tả bản tính thân mật của ơn gọi Kitô và việc Giáo Hội là Hiền Thê hướng về Lang Quân duy nhất; vì thế “thuộc về… một cách không thể rời bỏ đi vào đời sống của Giáo Hội và sự thánh thiện của Giáo Hội” (xem nt. 44).

Trong bối cảnh đó Cha mời gọi Anh Em, các Mục Tử của các Giáo Hội địa phương, có một sự lo lắng ân cần đặc biệt trong việc cổ võ trong các cộng đoàn của Anh Em các đặc sủng riêng biệt, hoặc là các đặc sủng đã có trong lịch sử, hoặc các đặc sủng mới, nâng đỡ, linh hoạt hóa, trợ giúp trong việc phân định, làm cho Anh Em gần gũi với lòng hiền dịu và tình yêu thương cho các hoàn cảnh đau khổ và yếu đuối trong đó có thể có một số các người thánh hiến, và nhất là soi sáng với việc giáo huấn của Anh em Dân Thiên Chúa về giá trị của Đời sống Thánh hiến, làm như thế để làm cho sáng ngời ra vẻ đẹp và sự thánh thiện của Giáo Hội.

Cha trao phó nơi Đức Maria, Trinh Nữ của việc lắng nghe và chiêm ngắm, môn đệ đầu tiên của Người Con yêu quý của Mẹ, Năm của Đời sống Thánh hiến này. Mẹ, người con yêu quý hơn của Chúa Cha và mặc lấy mọi ơn điển, chúng ta nhìn vào Mẹ, như là mẫu gương không ai vượt qua được của việc đi theo trong tình yêu của Thiên Chúa và trong việc phục vụ người thân cận.

Giờ đây với tất cả các Con Cha tạ ơn vì các ơn và vì ánh sáng mà Chúa muốn làm phong phú chúng ta, tất cả các Con, Cha đồng hành với Phép Lành Tông Tòa.

Từ Điện Vatican, ngày 21 tháng 11 năm 2014, Lễ Dâng Mình của Đức Trinh Nữ Maria.

Giáo hoàng Phanxicô

_________________

[1] Tông Thư Los caminos del Evangelio, cho các Tu Sĩ Nam Nữ Châu Mỹ Latin dịp kỷ niệm 500 Năm rao giảng Tin Mừng của Tân Lục Địa, ngày 29-6-, 26.
[2] Thánh Bộ Các Tu Sĩ Và Các Hiệp Hội Tu Đời, Các Tu Sĩ và việc thăng tiến con người, ngày 12-8-1980, 24: trong Báo L’Osservatore Romano, Suppl. 12-11-1980,tr. I-VIII.
[3] Bài Diễn Văn cho các Viện Trưởng và các Sinh Viên các Học Viện Giáo Hoàng, và Các Nhà và Cơ Sở ở Roma, ngày 12-5-2014.
[4] Bài Giảng Lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thờ, ngày 2 -2-2013
[5] Tông Thư, Ngàn năm thứ ba đang đến, ngày 6-1-2001, 43.
[6] Tông Huấn Niềm Vui của Tin Mừng, ngày 24-11-2013, 87.
[7] Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội đồng Giám mục Thế Giới, Đời sống Thánh hiến,  ngày 25-3-1996, 51.
[8] Đức Cha J. M. Bergoglio, Bài Phát biểu tại Thượng Hội đồng Giám mục Thế Giới về Đời sống Thánh hiến và sứ mạng của họ trong Giáo Hội về trên thế giới, Đại hội XVI ngày 13-10-1994.

___________________

(Dịch từ nguyên bản tiếng Ý do Phòng Báo Chí của Tòa Thánh phổ biến ngày 21-11-2014. Linh mục Phanxicô Borgia Trần Văn Khả, ngày 29-11-2014. Bản dịch để làm việc.)

Chuyển ngữ: 

 Đức ông Phanxicô Borgia Trần Văn Khả