Học hỏi Phúc âm Chúa Nhật 4 Mùa Chay A

Chúa Giêsu chữa mắt cho anh mù

HỌC HỎI PHÚC ÂM CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY A

LM Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ

LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: Sm 16, 1b. 6-7. 10-13a

“Ðavit được xức dầu làm vua Israel”.

Bài trích sách Samuel quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Samuel rằng: “Hãy đổ dầu cho đầy bình và lên đường. Ta sai ngươi đến nhà Isai dân thành Bêlem, vì Ta chọn một người con của ông ấy lên làm vua”.

Khi (họ) vào nhà, Samuel gặp ngay Eliab và nói: “Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?” Và Chúa phán cùng Samuel: “Ðừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi. Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”. Isai lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel nói với Isai: “Chúa không chọn ai trong những người này”. Samuel nói tiếp: “Tất cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?” Isai đáp: “Còn một đứa út nữa, nó đi chăn chiên”. Samuel nói với Isai: “Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về”. Isai sai người đi tìm đứa con út. Ðứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán: “Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó”. Samuel lấy bình dầu ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Ðavít từ ngày đó trở đi.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

Xướng: 1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

Bài Ðọc II: Ep 5, 8-14

“Từ trong cõi chết, ngươi hãy đứng lên và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.

Anh em thân mến, xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật. Anh em hãy nhận biết điều gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không sinh lợi ích gì, nhưng phải tố cáo thì hơn. Vì chưng, việc chúng làm cách thầm kín, dầu có nói ra cũng phải hổ thẹn. Nhưng tất cả những việc người ta tố cáo, thì nhờ sự sáng mà được tỏ bày ra; vì mọi việc được tỏ bày, đều là sự sáng. Bởi thế, thiên hạ nói: “Hỡi kẻ đang ngủ, hãy thức dậy, hãy vùng dậy ra khỏi cõi chết, và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi”.

Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 8, 12b

Chúa phán: “Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống”.

Phúc Âm: Ga 9, 1-41

“Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ anh, khiến anh mù từ khi mới sinh?” Chúa Giêsu đáp: “Không phải anh cũng chẳng phải cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh. Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những việc của Ðấng đã sai Ta. Ðêm đến không ai có thể làm việc được nữa. Bao lâu Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian”. Nói xong, Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôê mà rửa” (chữ Silôê có nghĩa là được sai). Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được. Những người láng giềng và những kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Ðó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Ðúng hắn!” Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”. Họ hỏi anh: “Làm thế nào mắt anh được sáng?” Anh ta nói: “Người mà thiên hạ gọi là Giêsu đã làm bùn xức mắt tôi và bảo: Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa. Bấy giờ tôi đi, tôi rửa và tôi trông thấy”. Họ lại hỏi: “Ngài ở đâu?” Anh thưa: “Tôi không biết”. Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt? Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Mấy kẻ khác lại rằng: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?” Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Ðó là một tiên tri”. Nhưng người Do Thái không muốn tin anh đã mù và đã được khỏi trước khi đòi cha mẹ anh đến. Họ hỏi hai ông bà: “Người này có phải là con hai ông bà mà ông bà bảo bị mù từ khi mới sinh không? Do đâu mà bây giờ nó lại trông thấy?” Cha mẹ y thưa rằng: “Chúng tôi xác nhận đây chính là con chúng tôi, và nó đã bị mù từ khi mới sinh. Nhưng làm sao mà bây giờ nó trông thấy, và ai đã mở mắt cho nó thì chúng tôi không biết. Nó khôn lớn rồi, các ông hãy hỏi nó, nó sẽ tự thưa lấy”. Cha mẹ anh ta nói thế bởi sợ người Do Thái, vì người Do Thái đã bàn định trục xuất khỏi hội đường bất cứ ai dám công nhận Chúa Giêsu là Ðấng Kitô. Chính vì lý do này mà cha mẹ anh ta nói: “Nó khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó”. Lúc ấy người Do Thái lại gọi người trước kia đã mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa! Phần chúng ta, chúng ta biết người đó là một kẻ tội lỗi”. Anh ta trả lời: “Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy”. Họ hỏi anh: “Người đó đã làm gì cho anh? Người đó đã mở mắt anh thế nào?” Anh thưa: “Tôi đã nói và các ông đã nghe, các ông còn muốn nghe gì nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ Ngài chăng?” Họ liền nguyền rủa anh ta và bảo: “Mày hãy làm môn đệ của người đó đi, còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của Môsê. Chúng ta biết Thiên Chúa đã nói với Môsê, còn người đó chúng ta không biết bởi đâu mà đến”. Anh đáp: “Ðó mới thật là điều lạ: người đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó bởi đâu. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi, mà hễ ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì kẻ đó mới được Chúa nghe lời. Xưa nay chưa từng nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài. Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ta ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Chúa Giêsu liền nói: “Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù”. Những người biệt phái có mặt ở đó liền nói với Người: “Thế ra chúng tôi mù cả ư?” Chúa Giêsu đáp: “Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói “Chúng tôi xem thấy”, nên tội các ngươi vẫn còn”.

Ðó là lời Chúa.

Phúc Âm: Ga 9, 1. 6-9. 13-17. 34 (bài ngắn)

“Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa” (chữ Silôe có nghĩa là được sai)”. Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Ðó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Ðúng hắn”. Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”.

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Mấy kẻ khác lại rằng: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?” Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Ðó là một Tiên tri”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người.

Ðó là lời Chúa.

CÂU HỎI TÌM HIỂU

  1. Bài Tin Mừng Ga 9,1-41 gồm 8 cuộc gặp gỡ khác nhau. Bạn có thể kể ra không?
  2. Trước câu hỏitại sao anh bị mù từ thuở mới sinh, Đức Giêsu đã trả lời ra sao? Đọc Ga 9,1-5.
  3. Đọc Ga 9,8-12. Anh mù có biết người đã chữa cho mình là ai không? Anh có thái độ nào trước những người láng giềng đang chia rẽ?
  4. Đọc Ga 9,13-17. Tại sao có sự chia rẽ trong nhóm Pharisêu? Đối với họ, Đức Giêsu là ai?
  5. Đọc Ga 9,18-23. Đâu là thái độ của cha mẹ anh mù khi họ bị những người Do-thái tra hỏi?
  6. Đọc Ga 9,24-34. Đâu là thái độ của anh mù khi đứng trước những người Do-thái?
  7. Anh mù được sáng mắt và đã sáng lòng. Anhtừ từlớn lên trong niềm tin đối với Đức Giêsu. Hãy cho thấy hành trình đó qua các đoạn sau: Ga 9,11-12.17.30-33.35-38.
  8. Người Do-thái hay người Pharisêu hỏilàm saoanh mù được khỏi mấy lần? Tại sao họ hỏi nhiều lần như vậy?

GỢI Ý SUY NIỆM

Anh mù từ lúc mới sinh đã được Đức Giêsu làm cho sáng mắt, và hơn nữa, anh đã tin vào Đức Giêsu. Ngược lại, giới lãnh đạo Do-thái giáo nghĩ mình sáng mắt, lại trở nên mù lòa, vì cố tình không tin Đức Giêsu. Bạn nghĩ mình có thể rơi vào sự mù lòa tương tự không?

PHẦN TRẢ LỜI

  1. Bối cảnh của bài Tin Mừng này có lẽ vẫn là Giêrusalem, sau những ngày Lễ Lều (Ga 7). Có 8 cuộc đối thoại trong đoạn Tin Mừng này: giữa Đức Giêsu và các môn đệ (Ga 9,1-5), giữa Đức Giêsu và anh mù (Ga 9,6-7); giữa anh mù đã được sáng mắt và những người quen biết anh (Ga 9,8-12); giữa anh mù được sáng mắt với những người Pharisêu (Ga 9,13-17); giữa những người Do-thái với cha mẹ của anh mù được sáng mắt (Ga 9,18-23); giữa những người Do-thái với anh mù được sáng mắt (Ga 9,24-34); giữa Đức Giêsu và anh mù được sáng mắt (Ga 9,35-38); cuối cùng, giữa Đức Giêsu và những người Pharisêu (Ga 9,39-41). Trong bài này, ta thấy nhắc đến nhóm những người Pharisêu (Ga 9,13.15.16.40) và nhóm những người Do-thái (Ga 9,18). Thật ra đây chỉ là một nhóm người thôi, nhóm này gồm những người lãnh đạo Do-thái giáo, có thái độ chống đối Đức Giêsu (x. Ga 9,24).
  2. Các môn đệ thắc mắc về nguyên nhân khiến một người bị mù ngay từ thuở mới sinh: do tội của anh hay do tội của cha mẹ anh (Ga 9,1-2). Thời xưa, người khuyết tật thường bị coi là do Thiên Chúa phạt vì người ấy đã phạm tội. Nhưng anh bị mù từ thuở mới sinh không thể phạm tội ngay từ lúc lọt lòng. Vậy phải chăng anh bị mù là do tội của cha mẹ anh? Đức Giêsu đã trả lời bằng một câu khó hiểu (Ga 9,3-4). Dựa trên câu trả lời này, anh bị mù không do tội của anh, cũng không do tội của cha mẹ anh, nhưng qua những gì Đức Giêsu sắp làm cho anh, mọi người thấy được công trình của Thiên Chúa, và nhận ra Đức Giêsu là ánh sáng cho thế gian (Ga 9,5).
  3. Sau khi anh mù được sáng mắt, có một cuộc tranh luận giữa những người quen biết anh: có phải anh đúng là người mù thường ngồi ăn xin đó không? Anh đã chấm dứt cuộc tranh luận bằng khẳng định: “Chính tôi đây” (Ga 9,8-9). Anh mù, nay được sáng mắt, biết tên người đã chữa cho mình, nhưng không biết người ấy ở đâu (Ga 9,11-12). Anh còn kể lại cho những người quen biết về cách thức Đức Giêsu đã chữa cho anh: trộn bùn, xức vào mắt rồi bảo anh đi rửa ở hồ Si-lô-ác.
  4. Anh mù được sáng mắt giờ đây bị dẫn đến trước những người Pharisêu. Họ muốn hỏi lại để biết chắc là anh đã bị mù và nay đã thấy được, nhờ Đức Giêsu lấy bùn thoa vào mắt anh và bảo anh đi rửa (Ga 9,15). Vấn đề gây tranh cãi ở đây là Đức Giêsu đã chữa anh mù vào ngày sa-bát, ngày bị cấm không được chữa bệnh, trừ những bệnh nguy tử. Bởi đó những người Pharisêu bỗng nhiên chia thành hai phe. Một phe cho rằng Đức Giêsu không phải là người của Thiên Chúa, nhưng là một người tội lỗi, vì đã không giữ ngày sa-bát. Phe kia cho rằng Đức Giêsu không thể là một người tội lỗi, vì làm sao một người tội lỗi lại có thể mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh (Ga 9,16). Như vậy không phải mọi người Pharisêu đều có cái nhìn tiêu cực về Đức Giêsu. Tuy nhiên, phe ủng hộ Đức Giêsu không mạnh bằng phe kia, như chúng ta sẽ thấy ở phần kế tiếp của bài Tin Mừng.
  5. Sau khi tra hỏi anh, giới lãnh đạo tôn giáo còn muốn điều tra cha mẹ của anh (Ga 9,18-23). Cha mẹ của anh mù “sợ người Do-thái”. “Người Do-thái” ở đây là những nhà lãnh đạo Do-thái giáo, họ có quyền trục xuất khỏi hội đường những ai tuyên bố Đức Giêsu là Đấng Kitô (Ga 9,22). Chính vì thế cha mẹ của anh rất dè dặt trong việc nói về con mình. Họ chỉ dám khẳng định đúng anh này là con của họ, đã bị mù từ lúc mới sinh, và nay đã được sáng mắt. Họ không dám nói gì về chuyện con mình được chữa lành ra sao. Họ khôn khéo dành câu trả lời này cho con của họ (Ga 9,21.23).
  6. Thái độ của anh mù được sáng mắt trước những người Pharisêu (Ga 9,24-34) thì khác hẳn với thái độ của cha mẹ anh (Ga 9,18-23). Đây là lần thứ hai anh bị gọi ra điều tra (lần đầu ở Ga 9,13-17). Trong lần đầu, anh chỉ kể lại chuyện anh được Đức Giêsu làm cho sáng mắt. Lần này anh mạnh mẽ hơn trong việc khẳng định quan điểm của mình (Ga 9,25). Anh thách thức những người Do-thái (Ga 9,27), và đưa ra lý luận sắc bén để chứng minh Đức Giêsu không thể là người tội lỗi, nhưng là “người của Thiên Chúa” (Ga 9,30-33; x. Ga 9,16b). Những người Do-thái không sao bắt bẻ được lý luận này, nên đành chĩa mũi dùi vào chính con người anh: họ cho rằng anh là kẻ sinh ra đã tội lỗi ngập đầu, nên mới bị mù. Cuối cùng họ dùng quyền và vũ lực để tống anh ra ngoài (Ga 9,34). 
  7. Sau khi anh mù được sáng mắt, anh từ từ nhận ra người cứu chữa mình là ai. Trước tiên, anh biết tên người đó là Giêsu, nhưng không biết ông ấy ở đâu (Ga 4,11-12). Khi những người Pharisêu còn tranh cãi xem ông Giêsu là ai, thì anh đã khẳng định Ngài là “một vị ngôn sứ” (Ga 9,17), nghĩa là một người của Thiên Chúa, chứ không phải là một người tội lỗi. Khi bị điều tra lần thứ hai, anh lại khẳng định ông Giêsu là “người của Thiên Chúa” vì ông này đã mở mắt cho anh, một người mù từ khi mới sinh (Ga 9,30-33). Cuối cùng, khi gặp lại người đã chữa cho mình, anh đã tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu là “Con Người”, và bái lạy Ngài (Ga 9,35-38).
  8. Các người Pharisêu (hay người Do-thái) ba lần đặt câu hỏi về “làm sao” ông Giêsu chữa cho anh mù được sáng mắt (Ga 9,15.19.26). Họ không muốn nhìn nhận sự kiện đó, nên cứ hỏi đi hỏi lại. Dấu lạ Đức Giêsu đã làm khiến họ hết sức lúng túng, vì nếu ông Giêsu là một người tội lỗi thì ông không thể làm dấu lạ lớn như thế được. Nhưng họ lại không muốn tin Đức Giêsu là người của Thiên Chúa. Họ thấy và biết Đức Giêsu là ai, nhưng họ đã giả vờ mù. Bởi đó Đức Giêsu nói với họ: “Tội của các ông vẫn còn” (Ga 9,41). Họ phạm tội khi không tin Đức Giêsu.